Wednesday, February 14, 2007

Áo Gấm Về Làng

Hình: Cổng Nghĩa Trang Quân Ðội VNCH. Biên Hòa

Bài Áo Gấm Về Làng rất có ý nghĩa nên tôi xin mạn phép anh Nguyễn Thành Ty để đưa vào trang Blog nầy để "Hải Ngoại Chư Quân Tử' đọc. Thành thật cảm ơn anh Ty trước.

Trương Tấn Thục.
14.2.2007
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------


Áo gấm về làng

Nguyễn thanh Ty

Ông Bà Can&Nghiên rất thân mến,

Trong vòng một tuần lễ mà Đại ca Can gọi điện thoại “lông đít tăng” từ San José, miền thung lũng đầy hoa vàng và nắng ấm, đến cái bang Mass xa xôi, heo hút lạnh giá này, để thăm hỏi sức khoẻ của tiểu đệ đến những hai lần, quả là chuyện lạ, tốt, hiếm có.
Mà ở đời cái gì “tốt quá cũng sinh nghi”.
Dân miền Nam sau cái ngày gọi là “thống nhất đất nước” đã học được nhiều cái tốt nhớ đời của Đảng Bác đã ưu ái tặng cho. Và cái con vi rút có tên là “nghi ngờ” cũng theo chân bộ đội, đảng viên Cụ Hồ tràn vào miền Nam luôn. Con vi rút “nghi ngờ” này xâm nhập vào được một môi trường tốt là tấm lòng người miền Nam xưa nay không biết ăn gian, nói dối, sống chân thật với nhau suốt bao đời, tha hồ mà tự tung, tự tác, tha hồ phát triễn. Dân miền Nam chưa hề được chích vắc xin miễn nhiễm về loại siêu vi khuẩn này nên ai nấy đều ngắc ngư con tàu đi vì bị bệnh hành.
Trong một thời gian ngắn kỷ lục, chỉ có mấy tháng sau ngày “phải dóng”, hầu hết dân miền Nam đều bị nhiễm bệnh “nghi ngờ” rất trầm trọng. Bệnh không có thuốc chữa. Chỉ có thuốc giải. Thuốc giải do Đảng ban phát. Ai lập được công to dâng lên Đảng, như tố cáo được người nào có lời nói hay hành vi ngược lại Đảng chẳng hạn, thì được Đảng ban thuốc giải. Con bệnh sẽ không bị hành hạ trong một thời gian. Sau đó tiếp tục đi rình mò người khác moi cho được lỗi lầm, để lập công tiếp.
Từ đó, cha mẹ nghi ngờ con cái. Con cái rình mò cha mẹ. Anh chị em nghi ngờ lẫn nhau. Trò nghi thầy. Thầy không tin trò. Bạn hữu nhìn nhau bằng con mắt dò xét. Hàng xóm láng giềng ra cửa gặp nhau ngoãnh mặt làm lơ như người lạ. Không khí xã hội im như tờ, lạnh như nước đá. Suốt hơn mười năm không nghe tiếng trẻ nô đùa, không nghe tiếng cười của người lớn. Chỉ nghe tiếng loa Phường oang oang ở đầu ngõ và bóng cờ đỏ bay rợp trời, phần phật trong gió.
Một thí dụ điển hình về lòng nhân của Đảng. Đảng không giết một ai như lời vu cáo của bè lũ phản động hô hoán lên rằng miền Nam sẽ có biển máu. Đảng lấy “chí nhân mà thay cho cường bạo”. Đảng chỉ dùng chiêu “học tập cải tạo” để giáo hóa những kẻ lầm đường lạc lối theo “MỹNgụy”. Đảng đã dẹp bỏ mấy cái thứ “ác ôn côn đồ” như dao găm, mã tấu, lựu đạn chày từ khuya rồi.
Toàn thể sĩ quan, công chức chen nhau hớn hở nộp tiền, nộp gạo xin được đi học tập mười ngày để thông suốt đường lối “khoan hồng, độ lượng và hoà hợp hòa giải dân tộc” như Đảng chủ trương và kêu gọi Quân Cán Chính miền Nam “khẩn trương đăng ký” để sớm được hưởng…khoan hồng.
Thế rồi cả mấy trăm ngàn người hí hửng ra đi. Té ra, “Đi mút chỉ cần câu” những mười năm lẻ chẳng thấy về. Mấy bà vợ trẻ lúc ấy cũng “hồ hởi phấn khởi” vẫy tay chào từ giả đấng lang quân lên đường, theo chân Bác, Đảng để sớm trở thành người dân tốt dưới chế độ xã nghĩa.
Để rồi chiều chiều ra đứng cửa sau chờ chồng:
…Càng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy rừng sâu.
Rừng sâu xanh thẫm một màu:
Màu kinh tế mới, môt màu tang thương!*
( Xin phép Ông Đặng Trần Côn và Bà Đoàn thị Điểm, được đổi mấy chữ cho hợp nghĩa.)
Về sau, trong bộ An Nam dị sử, nhà chép sử Vi bá Đạo ghi một câu xanh rờn để đời: Ngày Bính Ngọ, tháng Canh Thìn, năm Ất Mão, có hơn ba mươi vạn người ngu, đem tiền nộp cho Nhà nước để xin được ở tù khổ sai. Cổ kim xưa nay chưa hề có.
Cũng nhờ ơn Bác, Đảng và rút được nhiều kinh nghiệm gần sáu năm “học tập” tôi cũng biết thế nào là “lễ độ” nên đã biết “kinh nhi viễn chi”.
Hóa ra Đại ca Can gọi phôn hai lần, sau khi thăm hỏi lòng vòng chuyện mưa nắng bên Tây, bên Tàu cho phải đạo bằng hữu, rốt lại cái mục đích là: Nhớ viết một bài báo Xuân năm nay cho Đặc san của mình nhé!
Đấy, “tốt quá sinh nghi” là ở chổ đó.
Mà cũng phải. Một tuần lễ ngao du ở Bắc Cali. Ăn ở nhà hai Ông Bà Can Nghiên mấy ngày, được Ông Bà và con cháu tiếp đãi ân cần, đưa rước chu đáo… Cái ơn trọng ấy chưa biết lấy gì đền đáp đang còn nghĩ lung thì dịp tốt lại đến.
Thức một đêm, viết một bài báo Xuân cho bạn, cũng đáng lắm.
Nhưng ngặt nỗi, năm ngoái đã viết bài “ Năm Tuất nói chuyện chó” ngon lành như thế mà bây giờ chỉ còn mấy ngày nữa là năm Hợi lù lù dẫn xác tới trước cửa nhà, mà “sờ bụng thầy không môt chữ gì” thì lấy gì mà viết chuyện heo.
Sáng nay, Đại ca Can lại gọi điện thăm nữa. Và câu sau cùng ân cần, âu yếm nhắc: Cuối tháng 12 này lay out đó.
Bí quá, nhưng không thể phụ lòng hai người bạn già, thôi đành đánh trống lãng sang chuyện khác vậy.
Gọi là đền ơn tri ngộ, Tiểu đệ xin kể chuyện “Áo gấm về làng” mà vợ chồng đệ vừa xênh xang một chuyến trở về sau mười sáu năm tha phương cầu thực.
Một chuyến “lọng anh đi trước, võng nàng theo sau” lâu đến những bốn tháng ở một thành phố nghèo miền Trung, có biển xanh, cát trắng, gió mát hiền hoà tất nhiên là có vô số chuyện để mà nói khoác.
Nói là “áo gấm về làng” chỉ là cách nói ước lệ của mấy anh đồ nho thời xưa. Chứ bây giờ mà mặc áo gấm, đội khăn đống đi khơi khơi giữa phố thì e rằng không phải “té giếng” thì cũng “mát giây”.
Đệ lôi bộ “Còm lê Cà la oách” từ cái thời đi H.O năm 91 ra, để mang về mặc lại. Bộ còm lê năm xưa còn mới tinh, đang ở trong tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội”.
Mười sáu năm ở xứ người, có dịp mặc đi ăn đám cưới đâu chừng năm, ba bận gì đó rồi nằm mãi trong ngăn “cờ lô xịt” chờ ngày vô Viện Bảo Tàng trưng bày đồ cổ.
Qua xứ Mỹ, lỡ thầy, lỡ thợ. Tiếng Anh, Tiếng U ăn đong. Định nói nai là đẹp (nice) thành số chín (nine), thành ban đêm (night), thành con dao (knight)…
Mỹ nói thì mình ngớ ra. Mình nói thì Mỹ: What?
Cuối cùng chỉ có mỗi việc lao động tay chân dành cho nhân viên “cổ xanh”. Gọi văn huê là công nhân cán dài tức là công việc dọn dẹp vệ sinh.
Mà làm cái “Giốp” này đâu có dịp “Ăn Tô Ny Cọp” tức mặc bộ đồ lớn Vét Tông Cà la Oách.
Khổ cái là, lúc đi may nó thì thân thể còm nhom vì ăn nhiều bo bo và khoai sắn độn. Bây giờ sau mười mấy năm, bị đế quốc Mỹ đầu độc “bơ thừa sữa cặn” nên cái thân còm cõi năm xưa nó ú ra, cái bụng nó phệ ra, mà cái bộ còm lê sau mấy lần “Rai cờ lin” nó teo tóp lại, mặc vào nó bó rọ như đòn bánh tét, nghẹt thở gần chết.
Mà đã gọi là “áo gấm về làng” không lẽ xuềnh xoàng quần cao bồi với áo Ti Sớt coi sao được. Ể mặt quá! Dù gì cũng thể!
May sao may quá là may! Về quê đúng cái tháng tư, “ai xuôi con cuốc gọi vào hè, cái nóng nung người nóng nóng ghê” nên cái “áo gấm Cà la oách” chưa được đem ra lần nào để khoe mẻ. Bốn tháng trời ở cái xứ biển xanh, cát trắng, Đệ cứ quần soọc, áo Ti-Sớt đi dạo biển sáng, chiều là “nhất cử tam tứ tiện”.
Chỉ tội cho bà vợ già của Đệ, hì hà hì hục cả tuần, gom bao nhiêu là quần áo cũ chất đầy hai thùng cạc tông mang về cho người thân, chắc mẫm rằng họ mừng lắm.
Cứ mỗi lần nhắc đến người thân ở quê nhà, bả lại chép miệng:
- Thiệt tội nghiệp!
Ai dè! Khi mở thùng ra mấy đứa em bưng miệng cười ầm lên:
- Ối trời! Giờ này mà chị mang ba cái thứ này về làm chi cho nặng máy bay! Bây giờ ở Việt Nam họ gọi thứ này là “đồ Si Đa”.
Nói xong, chúng lôi ra mấy giỏ cần xé đầy những món đồ y chang. Bọn chúng đang bán thứ này ở chợ trời.
Sau đó, mới hay rằng, quần áo cứu trợ thiên tai, bão lụt, Quốc tế giúp cho dân nghèo bị nạn, đều chạy trật đường rày hết. Thay vì đến chổ cứu trơ chúng chạy lộn ra chợ trời.
Hai thùng cạc tông đầy nhóc quần áo mang từ Mỹ về tưởng đâu là “miếng khi đói, gói khi no” bỗng chốc thành đống giẻ rách.
Bà vợ đệ đang hí ha, hí hững vui như hoa mười giờ mới nở, bây giờ xìu xuống buồn hiu như hoa quỳnh tàn.
Cô em gái tôi biết ý bà chị dâu bèn an ủi, vỗ về:
- Chị Hai đừng có buồn làm chi cho nhiệt. Ở Việt Nam bây giờ mấy ổng đổi mới hết trơn rồi. Mấy ổng nói “ ta làm ăn theo kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nên ai ai cũng muốn có những tờ giấy xanh xanh in hình ông tổng thống Oách sinh Tông của cái kinh tế thị trường để làm kỷ niệm. Tụi em cũng thích sưu tập mấy cái tờ giấy đó. Anh chị cứ cho tụi em vài tờ có số 100 là vui rồi. Còn cái mớ đồ cũ này để dành lau nhà cũng tốt.
Bà vợ Đệ nghe cô em chồng thuyết một hơi, há hốc mồm ra, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, rồi hỏi một câu thơ ngây y như “con nai vàng ngơ ngác” của Lưu trong Lư thời tiền chiến. ( Sau, Lư theo Bác Đảng làm “Kách mệnh” đã sửa câu thơ “ Con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” thành một câu rất ư là thổ tả: “Con nai vàng không còn ngơ ngác nữa em ơi”. Từ đó danh hiệu nhà thơ Lưu trọng Lư bị chết theo câu thơ đó):
- Cô nói Nhà nước ta làm kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa là nghĩa làm sao?
- Em đâu có biết gì về chính chị, chính em. Nhưng suốt ngày cái loa Phường đầu ngõ cứ ông ổng giải thích cho quần chúng biết rằng, kinh tế thị trường là của tụi đế quốc tư bản rất là xấu xa, chuyên đi bóc lột xương máu nhân dân. Còn kinh tế của ta là kinh tế quốc doanh chuyên phục vụ nhân dân. Nhưng vì mấy chục năm qua, tuy hòa bình độc lập, người ăn thì nhiều, người làm thì ít, Nhà nước thu mua và phân phối không đồng bộ, khiến cho một số bộ phận còn thiếu ăn, nhất là vùng sâu, vùng xa phải ăn tạm rễ cây và côn trùng sâu bọ để sống.
- Vậy thì đâu có dinh dáng gì tới kinh tế thị trường mà lại có định hướng chủ nghĩa xã hội?
- Ậy! Mấy ổng giải thích rằng là, tụi tư bản có xấu xa đấy, có bóc lột đấy, nhưng được cái họ ăn ít mà làm nhiều thành ra vật chất dư thừa đến nỗi phải đem ra biển đổ bớt. Ông thủ tướng Phạm văn Đồng có đi qua Mỹ tham quan một chuyến, về nói chuyện lại cho cả nước nghe rằng tụi Mỹ mỗi ngày chỉ ăn có ba lạng gạo mà một mình làm đến mấy chục mẫu ruộng. Còn ta mỗi người ăn tới tám lạng gạo, ngược lại, mấy chục người làm có mỗi một công đất. Nên cái nạn thiếu đói “dứt khoát không đảo ngược được”.
Rồi cô em hạ giọng, thì thầm bên tai bà chị dâu:
- Mấy ổng nói đổi mới để tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường Cộng Sản mà người dân thấy càng ngày càng giống trở lại thời trước năm 1975. Cái bọn tư bản trước khi ăn còn phải bóc, phải lột. Còn mấy ổng lủm luôn cả lá lẫn vỏ, khỏi cần bóc lột.
- Bộ người dân xầm xì như vậy không sợ Công An khu vực rình rập nghe lén sao?
- Ối! Bi giờ người ta đâu còn sợ té đái vãi cứt trong quần như trước nữa. Bây giờ mấy ổng mạnh ai nấy kiếm ăn. Lớn ăn lớn, nhỏ ăn nhỏ. Cái đó gọi là kinh tế thị trường.
- Ừa! Nhắc lại mới nhớ. Định hỏi cô sao lại có định hướng dính chung với kinh tế thị trường? Hai cái như nước với lửa mà làm sao đi chung với nhau được?
- Cái này thì mấy ổng bắt dân học tập kỹ lắm để thông suốt, quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nước. Nếu không, dễ bị bọn phản động ở nước ngoài xuyên tạc lắm. Mấy ổng giải thích rằng thì là: Chủ nghĩa tư bản đang giãy chết bên bờ vực thẵm vì vậy ta phải có định hướng xã hội chủ nghĩa đi theo, có công dụng như cái đuôi con khỉ. Khi tụi tư bản té xuống hố thẳm thì ta có cái đuôi khỉ tức định hướng xã hội, lẹ làng quấn vào gốc cây bên trên bờ vực y như con khỉ treo mình trên cành cây nhờ cái đuôi vậy. Lúc đó trên địa cầu chỉ còn lại Thế giới đại đồng, mà Việt Nam ta là lá cờ tiên phong.
- À há! Có phải cái phát minh sáng kiến đó có ở trong sách Mác Lê Nin không?
- Mác LêNin làm gì mà biết trước được Đảng ta đi cặp với tư bản!
Mấy ổng nói đó là “Tư tưởng Bác Hồ”. Đó mới là “đỉnh cao trí tuệ loài người”
Bà vợ Đệ nghe cô em chồng thầm thì to nhỏ một hồi cứ à há luôn miệng. Khuôn mặt lúc thì xanh, lúc thì đỏ, biến đổi liên hồi y như con kỳ nhông bị đuổi bắt, da cứ thay màu theo nơi chạy trốn. Cuối cùng Đệ nghe bà ta than một câu mùi y như lúc Út Trà Ôn xuống câu xề trong bài “Tình anh bán chiếu”:
- Cám ơn cô. Nhờ cô mà bây giờ tôi mở rộng được tầm mắt. Bây giờ tôi mới tin chuyện lạ ông Văn Vĩ, nhạc sĩ cổ nhạc, bị mù bẩm sinh, nhờ cách mạng vô giải phóng miền Nam mà mắt ổng được sáng lại là có thật. Tui nghe bấy lâu nay mà hổng dám tin.
Đệ ngồi bàn bên cạnh, nhâm nhi ly bia hiệu ba con số 3 màu đỏ, made in Sai Gon, dỏng tai nghe lóm hai chị em nói chuyện, câu được, câu chăng mà cũng có lúc rùng mình lo sợ. Lo sợ vì mới bỏ nước ra đi chưa hơn mười lăm năm mà mình trở nên lạc hậu, tối tăm quá đổi. Quê hương đã đổi mới, lớn nhanh như Phù Đổng Thiên Vương. Đâu đâu cũng nhà lầu cao ngất ngưỡng, xe hơi đắt tiền bóng loáng. Người dân giàu có tính bằng tiền tỷ, ăn chơi xả láng. Trong khi mang tiếng là đang ở một đất nước giàu có văn minh nhất tinh cầu mà Đệ cũng như nhiều gia đình lưu vong tị nạn khác ở trong những căn nhà trệt, đi chiếc xe cũ mèm, trị giá chưa tới năm ngàn đô. Lạc hậu trong suy nghĩ, cứ tưởng bà con mình còn khổ, còn nghèo nên ai ai cũng ăn nhín, nhịn mặc, dành dụm tiền gửi về giúp đỡ thân nhân. Mỗi năm tổng số tiền lến đến tới ba, bốn tỷ Mỹ kim.
Sau buổi gặp gia đình lần đầu tiên đó, Đệ rút ngay cái kinh nghiệm “tri bỉ tri kỷ” bèn “thủ khẩu như bình” tức là ngậm miệng ăn tiền, không dám “nổ” như đa số “Việt kiều yêu nước” áo gấm về làng. Ai ai qua Mỹ vài năm cũng trở thành bác sĩ, kỷ sư…Tệ lắm cũng là Giám đốc xưởng này, Công ty nọ.
Nhưng cái sự “nổ” của mấy anh “Vịt kìu iêu nước” xem ra, nghe vui chơi rồi bỏ, không làm hại chết thằng Tây đen nào. Nghe nói, cái sự “nổ” về văn hóa trong nước thuộc lãnh vực bằng cấp thì tác hại ghê gớm lắm. Nó ảnh hưởng giây chuyền còn rùng rợn hơn cả vụ nổ nhà máy nguyên tử ở Nga năm nào nữa. Nghĩa là nó ảnh hưởng tới cả trăm năm như câu nói Bác Hồ thuổng lại của người xưa là “trăm năm trồng người” được treo la liệt khắp các trường học. Mỗi năm, Nhà nước sản xuất ra hàng lô, hàng lốc tiến sĩ, thạc sĩ, phó giáo sư, xe ba gác chở không hết. Đến khi thử khui lại hồ sơ vài ông thì thấy ông nào cũng chưa có chứng chỉ đệ thất hay đệ lục mà lại có bằng đại học. Mà toàn là cán bộ cao cấp, cầm cân nẫy mực Ba Tòa Quan lớn của guồng máy Nhà nước cả đấy. Mấy ông đều nhờ ở “chuyên tu” và học “tại chức” cả. Mà cái “vụ tu và tại” này là ơn mưa móc của Đảng đền đáp cho công lao các đồng chí đã ngậm đạn B.40 vượt Trường Sơn vào Nam đánh Mỹ cứu nước. (Sic)
Cái bọn bình dân học vụ sáng sáng uống cà phê cóc bên vĩa hè hay ganh ghét người có tài, có của, cứ dè biểu mấy ông tiến sĩ, thạc sĩ “nội hóa” cái câu “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” cho hả lòng nhỏ mọn.
Ngu dốt mà đè đầu, đè cổ được mấy chục triệu dân à? Cứ là bố láo!
Cái chuyện “ Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” có dịp Đệ sẽ bàn láo chơi sau. Bây giờ đang kể chuyện “áo gấm về làng” lan man sang chuyện khác e lại lạc đề.
Suốt bốn tháng rong chơi, ngày ngày Đệ nhờ mấy thằng bạn học cũ, bạn từ cái thuở còn mặc quần lủng đít, chở đi khắp hang cùng ngõ hẽm để “thăm dân cho biết sự tình”.
Sự đời, mắt có thấy, tai có nghe, tay có sờ, mũi có hít, lưỡi có liếm…thì mới tin đó là thực. Còn cái sự nghe nói lại, hoặc “Đài ta nói rằng… Báo Đảng nói rằng…” thì e rằng phải còn xét lại từng chữ, từng câu một cách cẩn thận mới tin được.
Trong nước, khi trà dư tửu hậu, mấy dân nhậu ưa vỗ đùi ngâm nga mấy câu vè tiếu lâm làm trò vui với nhau:
Chưa đi chưa biết Đồ Sơn,
Đi rồi mới biết chẳng hơn đồ nhà.
Đồ nhà tuy có hơi già,
Nhưng là đồ thiệt, hơn là Đồ Sơn.
Mấy cha này, có lẽ là con cháu hậu duệ của bà Chúa thơ Nôm Hồ xuân Hương, chắc lọc hết cái tinh tuý của loại văn song nghĩa, lập đi lập lại chữ “đồ” để chơi chữ: Đồ nhà và Đồ Sơn. Bãi biển Đồ Sơn, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở miền Bắc, nay trở thành hoạt cảnh thứ hai như ở Cần Thơ miền Nam:
Chiều chiều dưới bến Ninh Kiều,
Dưới chân tượng Bác đĩ nhiều hơn dân.
Chưa dừng lại ở đó, mấy cha còn chuyển vế sang chuyện du lịch, cái “mũi nhọn xung kích”, cái ngón nghề móc tiền du khách của ta:
Chưa đi chưa biết Việt nam,
Đi rồi mới biết chẳng ham tới gần.
Việt Nam đi thử một lần,
Đi rồi mới thấy ngại ngần Việt Nam.
Hỏi ra mới hay, du khách đến Việt Nam bị sập bẫy đủ trò. Từ viếng cảnh tới ăn uống, mua sắm. Đâu đâu cũng bị gạt. Tởn tới già. Cạch không dám đến lần thứ hai.
Mấy chuyện này Đệ nghe mà không dám nói. Nói ra dễ bị Công An gán cho cái tội tày trời là “có âm mưu khủng bố đặt bom toà Đại Sứ Hoa Kỳ” rồi còng tay, a lê hấp nhốt xà lim, hậu xét. Nếu vậy thì mất mẹ nó mấy tháng vô lối, vô ích, vô bổ.
Thấy vết xe đỗ đàng trước nên tránh xa, bà Thương Cúc, Ông Đỗ công Thành, khi khổng khi không, bị bắt nhốt khơi khơi mười mấy tháng, chẳng cần biết tội gì, Đệ lập tức mua hai cái khóa Yale, loại xịn, khóa cái miệng lại, chờ 120 ngày qua mau, để về lại Mỹ. Cứ sợ “được vạ thì má đã sưng”.
Thiệt tình Đệ sợ. Ở cái xứ mà con người có thể bị bắt nhốt bất cứ lúc nào cũng được, không cần lý do, không cần luật pháp thì Ông Trời lỡ có lúc xuống trần đi lang thang chơi cũng phải són đái trong quần nếu bị Công An chận đường hỏi hộ khẩu.
Một câu ngắn gọn để nói về hiện tình Việt Nam: Tám mươi triệu dân đang sống dưới bóng ma khổng lồ có cái tên là SỢ.
Đất nước mình, quê hương mình, làng xóm mình, bà con mình… mà từng bước đi, từng lời nói lúc nào cũng nơm nớp lo sợ trong lòng thì sống làm sao nổi hở trời!
Con người có miệng ăn mà không có miệng nói thì khác chi loài vật, cỏ cây?
Đệ trở lại Mỹ nói tiếng Anh, tiếng U, ba xí ba tú với người bản xứ mà sao trong lòng Đệ thấy thoải mái, vui sướng lạ thường.
Vợ chồng ông Bill nhà đối diện, thấy vợ chồng Đệ đi Việt Nam trở về, lò dò sang thăm hỏi đủ thứ chuyện trên đời.
Kể từ ngày dọn nhà đến ở khu này, ba bề bốn bên đều là những người Mỹ tốt bụng nên tình hàng xóm rất thân thiện. Những ngày nắng ấm, mấy bà già thường ra tam cấp trước cửa ngồi sưỡi nắng, nói chuyện mưa nắng, trao đổi râm ran với bà vợ Đệ rất thân tình. Khi chúng tôi chào tạm biệt đi về Việt Nam, bà Florene, mẹ ông Bill nói:
- Hai người cứ đi chơi vui vẻ. Nhà để đó chúng tôi trông coi cho. Đừng lo lắng gì.
Về đến nhà, chưa kịp đến cám ơn thì hôm sau vợ chồng Bill sang thăm.
Sau đây là câu chuyện trao đổi giữa gia đình Đệ với vợ chồng ông bà Bill thay cho sự kể lể dông dài “chuyến đi về sáng” gọi là “áo gấm về làng”. Cũng xin nói trước cho hai bạn và độc giả biết là vì “tự ái dân tộc của một “Vịt kìu iêu nước”, Đệ “nổ” văng miễn luôn, cho người Mỹ lé mắt chơi. Đừng có nói với Đệ rằng: Sao mầy xạo quá vậy hử?
Bill: Sao? Đi chơi có vui không? Đất nước Việt Nam bây giờ ra sao? Có gì thay đổi sau ba mươi năm độc lập tự do?
Đệ: Số một. Việt Nam kỳ này được Quốc tế xếp hạng nhất nhì thế giới về tình trạng an ninh và “ổn định chính trị” nên mỗi năm có tới hàng triệu du khách đến thăm viếng và họ cho biết đất nước tôi tuyệt vời hơn cả những nơi tuyệt vời mà họ đã từng đến. Kỹ nghệ du lịch Việt Nam hiện nay đứng đầu thế giới. Thái Lan và Nam Dương không sánh kịp.
Bill: Nhờ có ngành du lịch tốt như vậy, chắc Nhà nước tạo được nhiều công ăn việc làm cho dân chúng hơn ở Mỹ phải không? Có nạn thất nghiệp không?
Đệ: Làm gì có thất nghiệp ở Việt Nam! Đảng Cộng Sản luôn lo cho dân và vì dân. Bất cứ ai không có việc làm, Nhà nước lập tức cấp đất ở Vùng kinh tế mới và phát cho một cây rựa để làm ăn tức khắc.
Bây giờ có du lịch nên Nhà nước tổ chức ngay đội ngủ xe ôm, xe xích lô và đội quân bán hàng rong để kịp thời ngày đêm phục vụ tốt cho du khách. Ba đội quân này rất nhiệt tình hợp tác “nhuần nhuyễn” với đội quân tóc dài đông đảo, hoạt động về đêm rất rộn rịp. Nhờ vậy, chỉ có mấy năm mà dân tôi giàu có lên nhanh chóng. Ai ai cũng có nhà lầu và xe hơi.
Bill: Có thật không đó? Mới năm ngoái, ông Thủ Tướng Khải còn phải sang đây xin tiền cứu trợ mà!
Đệ: Ối chà chà! Ông không biết cái mánh của dân tộc tôi đâu. Cái đó gọi là “giả dạng thường dân”. Cái nghề khôn lõi của dân Á Châu, mấy ông không thể nào học biết được đâu. Người Việt Nam chúng tôi dù có giàu nứt đố, đổ vách đi nữa, cái miệng vẫn cứ than nghèo. Nên có câu thành ngữ “ Cả nước có tám chục triệu cái mỏ than” là vậy. Nước tôi là một nước giàu tài nguyên. Từ bé học Mẫu giáo đã được dạy rằng: “Đất nước ta là một dãy giang sơn cẩm tú, rừng vàng biển bạc, đất kim cương. Ngoài ra còn có mỏ dầu lớn nhất thế giới”.
Bill: Nếu nói vậy sao sau năm 1975, tôi đọc báo thấy dân Việt Nam đói đến nổi phải ăn thức ăn dành cho gia súc và có nơi phải ăn cả lá cây?
Đệ: Làm gì có chuyện đó! Mấy tờ báo phản động ở nước ngoài lúc nào cũng muốn bôi xấu đất nước tôi. Sỡ dĩ có lúc ăn bo bo mấy năm là vì Đảng Cộng Sản Việt Nam học được một phát kiến mới ở Trung Quốc rằng một ký rau muống bổ bằng năm ký thịt bò và một hột bo bo bổ bằng mười hột gạo. Còn cái chuyện ăn lá cây cũng là bố láo. Những năm đó Nhà nước phát miễn phí thuốc bổ tăng lực cho nhân dân uống để tăng thêm sức có tên là Xuyên tâm liên. Thuốc này khi uống vào người trở nên hồng hào béo tốt, cứ nhìn hình “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” mặt mày hồng hào, hai cái má phinh phính thì đủ biết. Nhưng khi đi cầu thì ra phân lỏng, xanh lè. Bọn thù địch nhìn thấy cứ cho là tại ăn lá cây. Còn nữa, thành ngữ nước tôi còn có câu: “Đói ăn rau, đau uống thuốc” để chỉ về văn hóa ẩm thực.
Bill: Nếu bo bo và rau muống bổ như vậy sao không tiếp tục ăn mà phải qua Thái Lan mua thêm gạo? Mà miền Nam trước kia nổi tiếng là vựa gạo của Đông Nam Á . Hàng năm xuất bán ra khắp nơi, nay sao lại phải đi mua ở những nước có ít lúa gạo hơn?
Đệ: Sở dĩ kế hoạch ăn bo bo thay gạo phải ngưng nửa chừng là vì hai lý do: Thứ nhất là dân miền Nam chưa thích nghi hột bo bo với cái bao tử lười biếng làm việc chỉ quen ăn gạo hột dài. Nay ăn vào ỉa ra, hột bo bo còn y nguyên, lại được tái sinh cho heo ăn. Thứ hai là đàn anh Trung Quốc không chịu bán thường xuyên, lúc bán, lúc không, giống như con chuồn chuồn, khi vui thì đậu, khi buồn thì bay. Còn chuyện thiếu gạo phải đi mua thêm ở ngoài là vì Việt Nam trước kia 90% dân chúng sống vế nông nghiệp. Nay nhờ Đảng dẫn dắt theo chủ nghĩa Mác Lê, một bước nhảy vọt lên đại kỹ nghệ tiên tiến, dân chúng bỏ ruộng đồng, đổ xô vô các xí nghiệp, nhà máy để chế tạo máy bay, tàu thủy, hỏa tiễn để sau vài kế hoạch ngũ niên sẽ có thể đưa người lên cung trăng vớt bèo hoa dâu mà đồng chí Phạm Tuân mang lên nuôi trồng trên đó mấy chục năm nay. Do đó, chuyện lúa gạo chỉ là giai đoạn tạm thời. Nay mai, lấy được bèo hoa dâu về rồi thì dân Việt nam tha hồ mà ăn. Ăn mệt nghỉ.
Bill: Này! Có thật không đó? Ông có biết câu ngạn ngữ nước tôi là: Nói láo không có chân đứng không? ( A lie no leg)
Đệ: Cái nói láo của xứ ông không có chân là phải. Các ông không biết nói láo nên dễ bị Đảng chúng tôi gạt hoài. Còn nói láo của Đảng tôi có đến ba chân. “Vững như kiềng ba chân” Ông nghe câu này của chúng tôi chưa? Đảng tôi nói láo hơn bảy chục năm nay. Nói láo từ trên xuống dưới. Nói láo từ trong ra ngoài. Nhà nhà nói láo. Người người nói láo. Mở miệng ra là nói láo. Bây giờ nói láo đã trở thành quán tính di truyền. Nói láo đã trở thành nói thật. Dã sử có ai đó nói: “Việt Nam không có tự do dân chủ” thì lập tức có 600 tờ báo và vài chục Đài phát thanh, phát hình của Đảng lên án là nói láo liền. Vì Đảng đã nói láo hơn bảy chục năm rằng “Việt Nam có dân chủ, tự do triệu lần hơn đế quốc”.
Bill: Chổ đàn ông với nhau, hỏi “láo” nhé. Về đó có em út chút đỉnh gì không? Cấm có nói “thật” đấy!
Đệ: Cái đó dứt khoát là không! Nói “láo” đấy! Thấy mấy em mơn mởn cũng thòm thèm nhưng nghĩ đến bệnh AID thì lại teo nên không dám. Cái món này bây giờ nhiều hơn lúa gạo. Muốn mua gạo phải vào chợ. Chứ “em út” thì nhan nhãn đầy đường, đầy công viên. Không muốn mua cũng bị chèo kéo, chài mồi.
Bill: Tôi đọc báo thấy con gái Việt Nam bị bán ra ngoại quốc nhiều lắm. Tin này có đúng không? Họ còn đăng hình đứng trong lồng kính và cả trên E-Bay để rao hàng như rao một món đồ?
Đệ: Không có chuyện đó. Ông Lê Dũng, phát ngôn nhân của Nhà nước đã cực lực phản đối những tin trên. Những kẻ thù địch và những tên phản động đã vu cáo Đảng ta. Đảng ta chỉ giúp cho một số cô thích lấy chồng ngoại quốc thôi. Đó là việc làm nhân đạo và có tính cách pháp lý rõ ràng như Nhà nước ta đã ký kết với các nước đối tác.
Bill: Không phải là một số ít. Tôi thấy con số lến tới cả trăm ngàn cô và có cả trẻ em nữa.
Đệ: Ông lại càng không hiểu cách điều hành đất nước của Đảng CS nước tôi. “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” thuở chưa chuyển sang từ trần có nói “Con người là vốn quí” và dặn dò đám con cháu sau này hãy xử dụng sao cho có lợi nhất. Bây giờ con cháu Bác thấy “cái vốn quí ” ấy đã đến lúc đem ra xuất khẩu. Trai hay gái đều được dùng chung dưới cái tên là “Xuất khẩu lao động”. Mà muốn được Đảng xuất khẩu không phải là chuyện dễ ăn. Thủ tục đầu tiên để được xuất là tiền đâu. Tức là muốn được Đảng bán thân như Kiều thuở xưa phải có “ba trăm lạng bạc trao tay” nộp cho Đảng.
Còn con số vài ba trăm ngàn cô là con số ít là rất đúng vì nếu có điều kiện và chính sách xuất khẩu lao động dễ dãi một chút thì con số phải lên vài ba triệu cô muốn “đi lấy chồng xa”.
Bill: Thôi tóm lại một câu, ông đi sang đây có hơn mười năm, bây giờ trở về thấy nước mạnh dân giàu như vậy, ông có biết phép lạ nào đã biến đổi nước ông một cách thần kỳ như vậy và ông có dự định về lại Việt Nam để sống cho đến cuối đời không?
Đệ: Chẳng có phép lạ nào hết. Nói phép lạ là nói đến mê tín dị đoan. Người Cộng Sản duy vật không bao giờ tin chuyện thần thánh. Mọi sự trên đời đều do Đảng sắp xếp sẵn cho mọi người. Có những câu kinh Đảng bắt dân tụng niệm hàng ngày như:
Bàn tay ta làm nên tất cả
Với sức người sỏi đá cũng thành cơm.
Hay là:
Mất mùa là bởi thiên tai,
Được mùa là bởi thiên tài Đảng ta.
Còn chuyện toàn dân Việt nam trong vòng có mấy năm mà trở nên giàu có mau chóng như vậy là nhờ Đảng xóa bỏ “cơ chế bao cấp” và “làm kinh tế thị trường”. Nghĩa là hồi trước Đảng một mình ôm hết tất cả tài nguyên đất nước, không một ai được tư hữu. Ngay cả căn nhà của mình đang ở, từ đời ông tới đời con cháu, mà Đảng thấy vừa mắt là cho lâu la đến tịch thâu.
Bây giờ Đảng xả láng cho đảng viên làm giàu không còn vô sản nữa. Hùa theo dòng chảy đó dân chúng tha hồ lên rừng hốt vàng (rừng vàng), xuống biển hốt bạc (biển bạc) và xẻ đất ra bán (đất kim cương).
Một số ra sau hè nhà đào đất lấy dầu lửa đem đổi lấy đô la tươi.( Năm 75, cán bộ răng đen mã tấu vào dạy dân miền Nam rằng: Mỏ dầu của ta lớn vô cùng tận, chổ nào cũng có dầu. Mỏ dầu của ta ví như con voi, mỏ dầu thế giới ví như con tem dán lên đít voi. Đồng bào cứ ra sau hè nhà bới đất lên lấy dầu đun bếp thoải mái. Nhưng từ năm 75 đến năm 2000 Đảng cấm không cho dân bới đất lấy dầu. Ai lén làm thì lập tức bị qui vào tội phá hoại kinh tế, tội tử hình.)
Còn chuyện trở về quê hương sống nốt những ngày còn lại thì chưa dám nghĩ đến. Vì không khí ở đó, từ năm 75, một luồng gió độc thổi từ Bắc vào Nam làm chết rất nhiều người. Nay lại bị ô nhiễm trầm trọng thêm bởi khí thải của hàng triệu chiếc xe máy phun xả mịt mù ngày đêm khó thở quá đối với cái phổi quen thở khí trời ở đây. Thứ nữa, với số tiền hưu ít ỏi hiện nay nếu mang về Việt Nam sống bên cạnh cung cách của cán bộ Đảng ăn xài hàng ngày thì chắc chắn là từ chết đến bị thương.
Dân chúng Việt Nam đã đánh giá lại tầng lớp xã hội hiện nay: (VC gọi là giai cấp) Việt kiều thua Việt Cộng.
Ông Bill nghe Đệ nói đến đây thì vội vàng đứng dậy xin cáo từ, miệng cứ lẩm bẩm:
- Nếu đúng như lời nói “láo” của Mít tờ Thai (Ty) thì nước Mỹ của mình chẳng còn bao lâu nữa sẽ giãy chết không kịp ngáp.
Ông Bill vừa thụt lùi ra cửa, vừa rút giấy “náp kin” trong túi ra lau mồ hôi trán đang vả ra chảy ròng ròng xuống mặt.
Sau khi tiễn ông ra khỏi cửa, Đệ vào toa lét soi gương, lấy tay sờ vào da mặt coi thử dày lên bao nhiêu phân. Lạ thay da mặt cứng như đeo mo. Hoảng hốt, bất giác Đệ đấm ngực và khóc rống lên ba tiếng và rên lên ba tiếng:
- Lỗi tại ta mọi đàng!
Bỗng dưng có ai đập mạnh vào bả vai, ngó lại thấy bà vợ nằm bên cạnh miệng đang càu nhàu:
- Ba mươi năm rồi mà vẫn còn thấy ác mộng. Hết khóc lại cười.
Hóa ra chỉ là một giấc chiêm bao.